GẶP GỠ 247

5 nhà khoa học Việt Nam lọt top 100 nhà nghiên cứu tiêu biểu châu Á là ai?

Anh Thư 27/05/2026 17:08

Từ phòng thí nghiệm đến ứng dụng thực tiễn, 5 nhà khoa học Việt Nam góp mặt trong danh sách 100 nhà nghiên cứu xuất sắc nhất châu Á.

Tạp chí Asian Scientist của Singapore vừa công bố danh sách Asian Scientist 100 năm 2026, ghi nhận 100 nhà khoa học tiêu biểu của châu Á. Đây là danh sách thường niên được thực hiện từ năm 2016, nhằm tôn vinh các nhà nghiên cứu có thành tựu nổi bật trong năm.

Những gương mặt được lựa chọn thường là các nhà khoa học đạt giải thưởng uy tín, có phát hiện đáng chú ý hoặc có đóng góp được ghi nhận trong học thuật, công nghiệp và đổi mới sáng tạo.

Năm nay, Việt Nam có 5 đại diện góp mặt trong danh sách, cho thấy sự hiện diện ngày càng rõ của khoa học Việt Nam trong cộng đồng nghiên cứu khu vực.

GS.TS Trần Xuân Bách - Lĩnh vực y tế công cộng

GS.TS Trần Xuân Bách, Trường Đại học Y Dược, Đại học Quốc gia Hà Nội, góp mặt trong Asian Scientist 100 năm 2026 với các nghiên cứu trong lĩnh vực y tế công cộng.

Hành trình học thuật của ông có nhiều dấu mốc đáng chú ý. Sau khi nhận bằng tiến sĩ ngành Y tế công cộng tại Đại học Alberta năm 2012, ông trở thành phó giáo sư ngành Y học ở tuổi 32. Đến năm 2023, ông tiếp tục trở thành giáo sư ở tuổi 39. Đến năm 2023, ông tiếp tục được công nhận chức danh giáo sư ở tuổi 39. Ở cả hai thời điểm, ông đều là phó giáo sư và giáo sư trẻ nhất Việt Nam.

GS.TS Trần Xuân Bách
GS.TS Trần Xuân Bách. (Ảnh: VNU)

GS Trần Xuân Bách từng nhiều năm liền nằm trong nhóm 10.000 nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới. Năm 2025, ông nhận Giải thưởng Lãnh đạo Đổi mới Y tế Toàn cầu của Hiệp hội các Đại học Sức khỏe Toàn cầu (CUGH). Giải thưởng ghi nhận những đóng góp của ông trong kinh tế y tế, hệ thống y tế và các công nghệ y tế số, hướng đến tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe cho các nhóm dễ bị tổn thương.

Các hướng nghiên cứu của GS Trần Xuân Bách có ý nghĩa trong bối cảnh nhiều quốc gia vẫn đối mặt với tình trạng quá tải y tế, chênh lệch trong tiếp cận dịch vụ chăm sóc sức khỏe và nhu cầu chuẩn bị tốt hơn trước dịch bệnh. Một hệ thống y tế hiệu quả cần sự kết nối giữa dữ liệu, chính sách, nhân lực y tế, công nghệ và cộng đồng.

Trong y tế công cộng, các mô hình có khả năng mở rộng có thể giúp dịch vụ chăm sóc sức khỏe tiếp cận nhiều người hơn, đặc biệt ở những khu vực còn hạn chế về nguồn lực.

PGS.TS Nguyễn Minh Tân - Lĩnh vực công nghệ hóa học

PGS.TS Nguyễn Minh Tân, Đại học Bách khoa Hà Nội, góp mặt trong Asian Scientist 100 năm 2026 nhờ những đóng góp trong lĩnh vực công nghệ hóa học, đặc biệt là nghiên cứu hợp chất thiên nhiên và hoạt chất sinh học.

Năm 2024, bà nhận Giải thưởng Kovalevskaya cho các công trình trong lĩnh vực này. Bên cạnh đó, PGS.TS Nguyễn Minh Tân đã có 7 bằng sáng chế tại Việt Nam và một công bố sáng chế quốc tế PCT. Những kết quả này cho thấy hướng nghiên cứu của bà không dừng ở lý thuyết, mà gắn với các ứng dụng cụ thể trong sản xuất và đời sống.

PGS.TS Nguyễn Minh Tân
PGS.TS Nguyễn Minh Tân từng chia sẻ rằng: "Việc của tôi là đưa những nghiên cứu ra khỏi phòng thí nghiệm". (Ảnh: HUST)

Một trọng tâm đáng chú ý trong các nghiên cứu của bà là công nghệ thực phẩm và hướng đi bền vững cho nông sản Việt Nam. Với một quốc gia có nguồn tài nguyên sinh học và nông sản phong phú, việc nghiên cứu, tách chiết và đánh giá các hoạt chất từ nguyên liệu thiên nhiên có thể mở ra khả năng ứng dụng trong dược phẩm, thực phẩm chức năng hoặc các sản phẩm chăm sóc sức khỏe.

Từ góc độ ứng dụng, các nghiên cứu về hợp chất thiên nhiên có thể tạo thêm giá trị cho những nguồn nguyên liệu quen thuộc. Đây cũng là cách khoa học góp phần nâng cao giá trị nông sản Việt Nam và đưa kết quả nghiên cứu đến gần hơn với đời sống.

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức - Lĩnh vực khoa học vật liệu

Trong lĩnh vực khoa học vật liệu, GS.TSKH Nguyễn Đình Đức, Trường Đại học Công nghệ, Đại học Quốc gia Hà Nội, ghi dấu với các nghiên cứu về vật liệu composite tiên tiến và kết cấu composite.

Năm 2024, GS Nguyễn Đình Đức nhận Giải thưởng Bảo Sơn trong lĩnh vực kỹ thuật - công nghệ. Ngoài ra, ông đã có nhiều năm theo đuổi nghiên cứu khoa học vật liệu, với hơn 400 bài báo và công trình khoa học được công bố. Trong số này, khoảng 250 công trình xuất hiện trên các tạp chí quốc tế thuộc hệ thống Viện Thông tin Khoa học (ISI).

GS.TSKH Nguyễn Đình Đức
GS.TSKH Nguyễn Đình Đức. (Ảnh: Nguyễn Diệp)

Tên tuổi của GS Nguyễn Đình Đức cũng nhiều lần xuất hiện trong các bảng xếp hạng học thuật quốc tế. Trong nhiều năm liên tiếp, ông nằm trong nhóm 10.000 nhà khoa học có ảnh hưởng nhất thế giới và được xếp hạng 51 thế giới trong lĩnh vực Engineering & Technology năm 2025.

Các nghiên cứu của ông tập trung vào những loại vật liệu hiệu năng cao, trong đó có composite ba pha và vật liệu biến thiên chức năng. Xét ở góc độ ứng dụng thực tiễn, vật liệu mới là nền tảng của nhiều công nghệ xung quanh con người. Một vật liệu nhẹ hơn, bền hơn hoặc chịu lực tốt hơn có thể góp phần cải thiện thiết kế máy bay, công trình, thiết bị kỹ thuật và nhiều sản phẩm công nghiệp khác.

PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung - Lĩnh vực công nghệ nano

PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung, Viện Công nghệ Nano, Đại học Quốc gia TP.HCM, góp mặt trong Asian Scientist 100 năm 2026 với các nghiên cứu về công nghệ nano và in phun nano (nano-inkjet printing). Hướng nghiên cứu này có khả năng ứng dụng trong nhiều lĩnh vực như điện tử, y sinh và môi trường.

Năm 2024, bà nhận Giải thưởng Kovalevskaya dành cho các nhà khoa học nữ có đóng góp nổi bật trong nghiên cứu và ứng dụng khoa học. Hiện bà là Phó viện trưởng Viện Công nghệ Vật liệu tiên tiến thuộc Đại học Quốc gia TP.HCM.

PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung
PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung. (Ảnh: Ngọc Duy)

Trong quá trình nghiên cứu, PGS.TS Đặng Thị Mỹ Dung đã công bố 60 bài báo quốc tế, sở hữu 3 bằng sáng chế, 2 giải pháp hữu ích và 5 bằng kiểu dáng công nghiệp. Bà cũng chủ trì phát triển 4 sản phẩm khoa học - công nghệ đi vào ứng dụng thực tiễn, đồng thời tham gia đào tạo nhiều nghiên cứu sinh và học viên cao học.

Các nghiên cứu của bà mở ra tiềm năng cho những thiết bị nhỏ hơn, nhạy hơn và có khả năng ứng dụng rộng rãi hơn. Trong y sinh, cảm biến sinh học có thể hỗ trợ phát hiện một số chỉ dấu sức khỏe. Trong lĩnh vực môi trường, cảm biến có thể giúp theo dõi chất lượng nước, không khí hoặc các yếu tố ô nhiễm.

Nhờ đó, công nghệ nano có thể bước ra khỏi phạm vi phòng thí nghiệm để trở thành nền tảng cho nhiều giải pháp phục vụ đời sống hiện đại.

TS Trương Hải Bằng - Lĩnh vực công nghệ môi trường

TS Trương Hải Bằng, Đại học Văn Lang, góp mặt trong Asian Scientist 100 năm 2026 với các nghiên cứu trong lĩnh vực công nghệ môi trường. Trọng tâm nghiên cứu của anh là cơ chế phân hủy các hợp chất hữu cơ phức tạp trong nước.

Sinh năm 1990, TS Trương Hải Bằng hiện là nghiên cứu sau tiến sĩ tại Đại học Văn Lang. Năm 2024, anh nhận Giải thưởng Quả cầu vàng, một giải thưởng dành cho các tài năng trẻ trong lĩnh vực khoa học - công nghệ. Anh cũng sở hữu một bằng sáng chế tại Hàn Quốc và một bằng sáng chế tại Việt Nam trong lĩnh vực môi trường.

TS Trương Hải Bằng
TS Trương Hải Bằng. (Ảnh: Trường Đại học Văn Lang)

Điểm nổi bật trong hướng nghiên cứu của TS Trương Hải Bằng là việc tìm hiểu bản chất và hiệu quả ứng dụng xúc tác quang hoạt hóa trong vùng ánh sáng nhìn thấy để xử lý các hợp chất hữu cơ tổng hợp. Đây là nhóm chất có thể gây khó khăn cho quá trình xử lý nước nếu tồn tại trong môi trường.

Ô nhiễm nước là vấn đề gắn chặt với sức khỏe cộng đồng. Khi các hợp chất hữu cơ khó phân hủy xuất hiện trong nguồn nước, quá trình xử lý trở nên phức tạp hơn và cần những hiểu biết sâu về cách các chất này biến đổi.

Vì vậy, các nghiên cứu trong công nghệ môi trường có vai trò quan trọng trong việc tìm kiếm giải pháp xử lý nước hiệu quả hơn. Ở quy mô rộng hơn, hướng nghiên cứu này cũng góp phần bảo vệ hệ sinh thái, giảm rủi ro sức khỏe và hướng đến phát triển bền vững.

    Nổi bật
        Mới nhất
        5 nhà khoa học Việt Nam lọt top 100 nhà nghiên cứu tiêu biểu châu Á là ai?
        • Mặc định
        POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO